Kết quả Dự án Phát triển Tại Việt Nam

Disponible en: English
Một nước Thu nhập Trung bình mới nổi
Kết quả Phát triển đầy Ấn tượng của Việt Nam

Tổng quan

Là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới, với mức tăng trưởng GDP hàng năm đạt 7,2% trong suốt thập kỷ trước cuộc suy thoái kinh tế năm tài chính 2008-2009, Việt Nam đã giúp khoảng 35 triệu người thoát nghèo. Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ mức 58% năm 1993 xuống còn 14% năm 2008. Kết quả các chương trình hỗ trợ phát triển Việt Nam của Ngân hàng Thế giới được nhận xét là thành công (tỷ lệ 100% dự án, trên tổng số 34 dự án đã hoàn thành được Nhóm Thẩm Định Độc lập của Ngân hàng đánh giá). Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc áp dụng những biện pháp cải cách theo cơ chế thị trường. Do đó, mục tiêu được công nhận là nước có mức thu nhập trung bình (thu nhập bình quân đầu người 1000 đô la Mỹ, theo định nghĩa của Ngân hàng) là hoàn toàn trong tầm tay. Trong năm 2009, Việt Nam chuyển mình từ một nước là đối tượng của Ngân hàng Phát triển Quốc tế (IDA) thành một nước là khách hàng của cả Ngân hàng Phát triển Quốc tế và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển (IBRD).



ĐA PHƯƠNG TIỆN

Thách Thức

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới đây đã làm chậm lại quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn dài hạn, tuy nhiên chính phủ Việt Nam tin tưởng rằng tốc độ tăng trưởng sẽ quay lại mức 6,5% trong năm 2010. Trong khi gói kích thích đã giúp giảm nhẹ tác động của cú sốc thì vẫn còn những thách thức mới nổi lên vì nền kinh tế của Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp và ngày càng hội nhập toàn cầu nhiều hơn. Cần phải thực hiện những cải cách thể chế nhằm đảm bảo rằng chương trình phát triển rộng của đất nước có thể đáp ứng được những mục tiêu của tăng trưởng toàn diện và bền vững.


Ngoài ra cũng cần nỗ lực hơn nữa nhằm giải quyết những vùng nghèo đói còn lại nơi có nhiều hộ nghèo thuộc các dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng miền núi xa xôi.


Vấn đề tăng trưởng bền vững cũng là một thách thức đối với Việt Nam vì họ phải gánh chịu những áp lực ngày càng tăng đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên, và nhiều bộ phận dân cư của họ phải đối mặt với nguy cơ thiên tai và những tác động (bất lợi) có thể tiên đoán được của biến đổi khí hậu.


Phương pháp

Chương trình quốc gia của Ngân hàng Thế giới hoàn toàn phù hợp với Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội Năm năm của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2006 -2010, tập trung vào:

  • cải thiện môi trường kinh doanh
  • đẩy mạnh hòa nhập xã hội
  • đẩy mạnh quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường
  • nâng cao công tác quản trị

Theo đề nghị của Chính phủ, Ngân hàng đã nâng cao những khoản tài chính đầu tư vào hạ tầng trong năm tài chính 2010 – 2011, với lượng cho vay lên tới 1,8 tỷ đôla Mỹ cho công tác phát triển năng lượng, giao thông và đô thị, tăng 25% về khối lượng so với mức hỗ trợ trong ba năm tài chính trước cộng lại. Đến cuối năm tài chính 2009, chương trình đã triển khai 45 hoạt động và tổng cam kết là 5,5 tỷ đôla Mỹ


Trong số này, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển cam kết hỗ trợ lên tới 750 triệu đôla Mỹ, bao gồm hai khoản vay phát triển chính sách (DPL) nhằm hỗ trợ cải cách về đầu tư công (đường dẫn đến video) và khu vực năng lượng. Thúc đẩy khâu lựa chọn, chuẩn bị, thực hiện và giám sát các dự án đầu tư công là những việc làm cần thiết để hiện đại hóa công tác quản trị. Khoản vay DPL thứ hai sẽ cơ cấu lại thị trường năng lượng, nâng cao tính cạnh tranh của nó và cải thiện tính hiệu quả và bền vững trong sử dụng năng lượng. Ngoài ra, Ngân hàng cũng làm chủ tọa cuộc họp Nhóm các nhà tài trợ (CG) với cam kết cao kỷ lục là 8 tỷ đô la hỗ trợ phát triển.


Kết quả

Đã cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận với dịch vụ tín dụng ở nông thôn. Trong thập kỷ vừa qua, số những hộ gia đình ở nông thôn được lần đầu tiên tiếp cận với nguồn tín dụng hỗ trợ các hoạt động nông nghiệp và kinh doanh nhỏ đã tăng lên đáng kể. Các dự án hỗ trợ tài chính cho khu vực nông thôn Việt Nam giai đoạn mộtgiai đoạn hai của Ngân hàng đã đóng góp tích cực vào xu hướng phát triển này cũng như giúp tăng cường các thể chế tài chính ở khu vực nông thôn. Dự án thứ hai đã cung cấp tài chính cho hơn 400.000 dự án nhỏ, nâng tổng số tiền đầu tư tương đương với 740 triệu đôla Mỹ và đã tạo ra nhiều nguồn công ăn việc làm mới. (Xem video và phóng sự video)


Đã phát triển các trang thiết bị cung cấp nước và vệ sinh. Từ năm 2006 đến 2009, việc cung cấp nước đô thị ở các thị trấn nhỏ đã tăng gấp đôi, lên đến tỷ lệ 60% và ở các thành thị tỷ lệ này là từ 75% đến 95%. Từ năm 1999 đến 2009, hơn 17 triệu dân cư ở khu vực nông thôn đã được tiếp cận với nguồn nước sạch. Ngân hàng thế giới đã hỗ trợ cho sự phát triển này thông qua những dự án đầu tư vào cung cấp nước và vệ sinh nông thôn ở vùng Lưu vực sông Hồng và qua các chương trình đổi mới như Dự án Hỗ trợ Cơ sở Đầu ra Toàn cầu ra do Quỹ Đông Tây hội ngộ và do Tổ chức Đối tác Toàn cầu hỗ trợ.


Khoảng 80% hộ gia đình ở thành thị đã có điều kiện vệ sinh nhưng hiện nay hầu hết đều đang sử dụng bể tự hoại và rất ít thất thải được xử lý. Ngân hàng Thế giới đang hỗ trợ việc phát triển hệ thống vệ sinh ở một số thành phố, cung cấp tài chính cho một số nhà máy xử lý chất thải nước đầu tiên của Việt Nam ở các thành phố biển như điểm Di sản Thế giới Vịnh Hạ Long (xem video video), các trung tâm đô thị quan trọng ở Đà Nẵng và Hải Phòng. Vấn đề vệ sinh đô thị vẫn còn là một mảng được ưu tiên hỗ trợ trong những vấn đề liên quan đến đô thị.


Hiện nay 95% dân số đã có điện: Ở Việt Nam, trong vòng mười năm qua, ngày nào cũng có thêm 9.000 người được lần đầu tiên được kết nối với hệ thống điện lưới. Việt Nam đã tăng gấp đôi công suất phát điện từ 12.000 MW năm 2005 lên 25.000 MW năm 2010. Nhờ có Dự án Năng lượng Nông thôn Giai đoạn hai, hơn 2,7 triệu người ở những vùng nghèo nhất Việt Nam đã được tiếp cận với điện khi 555.327 hộ đã được kết nối với hệ thống điện lưới quốc gia. (Xem video video)


Hiện nay hơn 90% dân cư được kết nối với nhau bằng những con đường chịu được mọi thời tiết: Được triển khai ở 33 tỉnh, đã tiếp cận được với một số khu vực miền núi khó khăn nhất ở Miền Bắc Việt Nam, Dự án Giao thông nông thôn giai đoạn ba đưa những cộng đồng dân cư nghèo và sống ngoài rìa đến với những thị trường và dịch vụ tốt hơn. Với mức trung bình chiếm 4,5% trong đầu tư GDP, Việt Nam hiện là nước đầu tư lớn nhất vào cơ sở hạ tầng giao thông ở Châu Á, nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, cho các thành phố được liên kết và nâng cao mức sống của những dân cư còn lại vươn lên khỏi đói nghèo. (Xem video video)


Nâng cao mức sống ở những khu vực miền núi xa xôi: Nhờ Dự án Giảm nghèo miền núi phía Bắc giai đoạn một, 353,871 hộ gia đình đã được hưởng dịch vụ y tế tốt hơn và hơn 118 ngàn hộ gia đình tiếp cận được nước sạch, cải thiện đáng kể sức khỏe cho người dân địa phương. Dự án tiếp theo sẽ được xây dựng dựa trên cơ sở những thành tựu ban đầu này và sẽ tăng cường tính sẵn sàng đối phó với những thảm họa có thể xảy ra với cộng đồng và đẩy mạnh những sáng kiến dịch vụ liên kết thị trường thí điểm.


Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế: Chương trình bảo hiểm y tế do Ngân hàng hỗ trợ cho người nghèo đã nâng mức bảo hiểm từ 28% vào năm 2004 lên đến 55% vào năm 2010. Ngân hàng cũng đã hỗ trợ việc thành lập thành lập các ngân hàng máu đầu tiên của cả nước (Xem video video)

Giáo dục tiểu học tăng gấp đôi và nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đã được nhập học: Tỷ lệ học sinh tiểu học chính quy đã tăng gấp đôi từ 25% năm 2005 lên 50% trên toàn quốc. Tỷ lệ trẻ em ở những huyện khó khăn nhập học đạt 94% (so với 97% của cả nước) và tỷ lệ trẻ em gái học cấp hai đã vượt trẻ em trai, ở mức 78% so với 77%.

Quyền của phụ nữ đối với sở hữu đất đai được nâng cao: Nối tiếp thành công của hai dự án thí điểm do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ vào đầu những năm 2000, chính phủ đã thông qua Luật Đất đai quy định tất cả các giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đều phải ghi tên cả chồng và vợ (xem video video). Dự án Quản lý Đất đai Việt nam do Ngân hàng hỗ trợ sẽ cấp khoảng 5 triệu giấy chứng nhận quyền sở hữu đất (chung cho vợ và chồng) trong ba năm tới.


Hướng tới Tương lai

Một vài năm tới sẽ là thời gian quan trọng đối với việc hoàn thành giai đoạn quá độ lên nền kinh tế thị trường và tạo lập nền móng vững chắc cho một nước có thu nhập trung bình của Việt Nam.

Những nền móng này liệu có đủ vững mạnh để đảm bảo mang lại tăng trưởng toàn diện và bền vững; điều đó còn phụ thuộc vào những quyết sách trong những năm tới. Ví dụ, 312 triệu đô la khoản vay phát triển chính sách (DPL) nhằm tái cơ cấu khu vực năng lượng sẽ xóa bỏ tình trạng độc quyền đã tồn tại lâu nay, cải thiện môi trường kinh doanh đối với đầu tư và cung cấp một dịch vụ hiệu quả hơn. Trong khi, bốn dự án từ nguồn vốn IDA khác được Hội đồng thông qua vào mùng 6 tháng Tư sẽ cung cấp tài chính cho y tế, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển năng lực lập kế hoạch cho địa phương và liên kết thị trường giữa các vùng còn yếu kém ở miền Bắc, lưu vực sông Hồng và thành phố đang đô thị hóa nhanh Hồ Chí Minh.

 

Noticias relacionadas

Ngân hàng Thế giới duyệt tín dụng hỗ trợ Việt Nam tăng cường tính cạnh tranh cho ngành nông nghiệp
Ngân Hàng Thế Giới Hỗ Trợ 60 Triệu USD Để Cải Thiện Y Tế Tại Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc
VIỆT NAM ĐANG TRÊN ĐƯỜNG TRỞ THÀNH NƯỚC THU NHẬP TRUNG BÌNH, THEO CHỦ TỊCH NGÂN HÀNG THẾ GIỚI



Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/9NYJHL6IZ0