Nhu cầu nội địa của Trung Quốc đã giúp thúc đẩy sự hồi sinh của khu vực song một số nước vẫn còn phải chật vật.

ยังมีอีกที่: Thai, 中文, English

 

 

Tại Hà Nội:
Trần Kim Chi, 39346600 máy lẻ 702; Di động: 0903250256; Email: 
ctran@worldbank.org
Tại Washington, DC:
Elisabeth Mealey (202) 458 4475; 
emealey@worldbank.org-
Mohamad Al-Arief (202) 352 4745; malarief@worldbank.org

Oa-sinh-tơn, DC, ngày 03 tháng 11 năm 2009 – Theo đánh giá nửa năm của Ngân hàng Thế giới về sức mạnh kinh tế của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương thì sự tăng trưởng trở lại của các nước Đông Á đã và đang diễn ra với một tốc độ nhanh chóng đáng ngạc nhiên và cũng rất đáng hoan nghênh, nhưng nếu đưa Trung Quốc ra khỏi phương trình phát triển này thì bức tranh khu vực sẽ kém tươi vui.

Bản Cập nhật mới nhất về Đông Á và Thái Bình Dương, với nhan đề Biến sự tăng trưởng trở lại thành giai đoạn phục hồi, đã cho biết các gói kích thích lớn và kịp thời về tài chính ở hầu hết các nước Đông Á, dẫn đầu là Trung Quốc và Hàn Quốc, cùng với quá trình kích cầu mạnh mẽ hiện đang diễn ra có vai trò là động lực cho sự tăng trưởng trở lại trong khu vực và góp phần đáng kể trong việc lấy lại niềm tin đối với sự tăng trưởng toàn cầu.

Sự tăng trưởng ở Đông Á và Thái Bình Dương vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Trung Quốc, một nước mà tốc độ tăng GDP năm 2009 có thể bù đắp lại cho sự suy giảm GDP của Mỹ, khu vực Châu Âu và Nhật Bản. Do đó, bất chấp sự phát triển mạnh mẽ của In-đô-nê-xia và Việt Nam, nếu không tính Trung Quốc thì khu vực đang phát triển Đông Á cũng chỉ ước đạt mức tăng trưởng 1% năm 2009, chậm hơn Nam Á và Trung Đông và Bắc Phi, và chỉ nhỉnh hơn khu vực Châu Phi Cận Sahara. Một số nước khác vẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi khủng hoảng – theo bản báo cáo thì GDP đã thu hẹp ở Cam-pu-chia, Ma-lay-xia và Thái Lan và chỉ tăng lên ở Mông Cổ và một vài đảo ở Thái Bình Dương.

Khi các doanh nghiệp, kể cả chính thức hay không chính thức, đã thích nghi với việc nhu cầu giảm, thì công nhân ở khắp khu vực đã bị ảnh hưởng theo nhiều cách khác nhau. Các doanh nghiệp đã cắt giảm giờ lao động, hạn chế làm thêm ca, không giữ chân các lao động tạm thời hoặc làm theo hợp đồng hoặc cắt giảm lương; tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp đã hủy bỏ một số biện pháp như thế. Rất ít nhân công làm việc trong giờ hành chính bị sa thải vì các công ty đang phải cố gắng cắt giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo khi cảm nhận thấy nhu cầu đang có xu hướng phục hồi. Những công nhân đã bị mất việc cũng đã tìm được những công việc trong các ngành dịch vụ và công nghiệp, thường trong những khu vực trái ngành trái nghề và với mức lương thấp hơn trong điều kiện làm việc khó khăn hơn. Ở một số nước, các gói kích cầu đã trợ giúp việc tạo ra việc làm công tạm thời cho người lao động.

Theo bản báo cáo, có khoảng 14 triệu người lẽ ra đã có thể thoát khỏi cảnh nghèo đói với thu nhập 2 đô la Mỹ một ngày nếu các nền kinh tế trong khu vực vẫn đạt được mức phát triển như trước khủng hoảng, nhưng trong năm 2010 tới họ vẫn phải chịu tình cảnh đói nghèo.

Tuy nhiên, với mức tăng trưởng ước đạt 8,4% trong năm 2009 của Trung Quốc và nhu cầu trong nước của nước này tăng cao hơn nhu cầu thế giới, những nước xuất khẩu hàng tiêu dùng, linh kiện điện tử và nguyên liệu thô cho Trung Quốc đã được hưởng những tác động tích cực. Do đó, Ngân hàng Thế giới đã ước đoán tăng trưởng cho cả vùng đang phát triển Đông Á và Thái Bình Dương là 6,7% trong năm 2009 và 7,8% trong năm tới.

Trong tuần này khi các quan chức, bộ trưởng và chủ tịch 21 nước thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) nhóm họp tại Xing-ga-po, nhà kinh tế học chuyên về khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, Vikram Nehru đã cảnh báo rằng những nguy cơ kìm hãm sự phục hồi bền vững vẫn còn hiện hữu.

Ông cho biết “Một số chính phủ trong khu vực sẽ có đủ năng lực tài chính để duy trì kích thích tài chính cho đến khi xu hướng phục hồi trở nên rõ ràng. Tuy nhiên, thời hạn để có thể bắt đầu rỡ bỏ các biện pháp trợ cấp có thể đến sớm hơn dự đinh do có những lo ngại về những bong bóng giá trị tài sản”.

Ông nói sau năm 2009, các nước trong khu vực vẫn có thể đạt mức tăng trưởng nhanh ngay cả khi các nước tiên tiến vẫn chỉ tăng chậm chạp. Để tận dụng được các tiềm năng phát triển phía trước, các nước cần phải chống lại việc bảo hộ, tiếp tục mở cửa và hội nhập nhiều hơn chứ không phải ít hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Ông Nehru cũng cho hay “Việc đẩy mạnh chuỗi giá trị thặng dư trong mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu sẽ dẫn đến năng suất lao động tăng lên và tăng trưởng mạnh mẽ hơn, và điều đó sẽ cho phép những công nghệ và cải tiến mới được nhân rộng ra các nền kinh tế khác trong khu vực.”

Ivailo Izvorski, tác giả chính của bản báo cáo đã cho biết cuộc khủng hoảng đã giúp các chính phủ nhận ra rằng các nước có thể đạt được tăng trưởng cao hơn nhờ nhu cầu trong nước nếu các biện pháp kích thích của chính phủ trong tiêu dùng cá nhân và dịch vụ được phát huy hiệu quả hơn.

Izvorski phát biểu “Việc lấy lại mức tăng trưởng không nhất thiết là sự lựa chọn giữa việc phụ thuộc vào thị trường thế giới hay thị trường nội địa. Nó có thể là việc tận dụng được tăng trưởng từ nhu cầu nội địa và coi đó như một nguồn bổ sung vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng tăng. Việc thúc đẩy tăng trưởng trong các ngành dịch vụ, giải quyết những thắt nút trong cơ sở hạ tầng và đẩy mạnh chất lượng giáo dục cần phải đi kèm với việc phát triển các hệ thống an sinh xã hội với các mục tiêu và nguồn tài chính tốt hơn.”

“Cùng với giáo dục và y tế, sự tiến bộ trong các hệ thống an sinh xã hội sẽ giúp làm giảm việc tiết kiệm mang tính chất phòng ngừa rủi ro, thúc đẩy sự gắn kết trong nước trong lúc hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng gia tăng và giúp cho các quốc gia gặt hái những lợi ích lớn nhất nhờ sự hội tụ của các nền kinh tế, và tất cả những điều này là hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế thành công về lâu dài.”

*******



Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/8LW1PXOOS0