Cải cách hành chính công

Báo cáo Quan hệ đối tác về cải cách hành chính công, cập nhật tháng 12/2004

 

Liên hệ:

Trần Văn Ngời, Vụ QHQ, Bộ Nội vụ

htqt@fpt.vn

  


I. Thông tin chung

1- Quan hệ đối tác về CCHC

Quan hệ đối tác về cải cách hành chính là một diễn đàn hợp tác giữa Chính phủ và cộng đồng tài trợ nhằm mục tiêu của Chương trình tổng thể CCHC 2001-2010. Năm 2007, có 16 dự án hỗ trợ CCHC, cùng với trên chục cơ quan tài trợ quốc tế, các cơ quan quản lý ODA của Chính phủ Việt Nam và Bộ Nội vụ (với tư cách là cơ quan đầu mối phối hợp về cải cách hành chính) tham gia diễn đàn này. Diễn đàn quan hệ đối tác về CCHC bắt đầu từ năm 2003, với mục tiêu:

- Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin và đối thoại giữa Chính phủ và cộng đồng tài trợ nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch và nhiệm vụ cải cách hành chính;

- Phối kết hợp tổ chức thực hiện và quản lý những hoạt động CCHC

- Chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và kết quả thí điểm về CCHC trên cơ sở đó nhân rộng những mô hình, thực tiễn thành công,

- Chuẩn bị báo cáo về tiến độ, kết quả và kế hoạch thực hiện CCHC cho Hội nghị thường niên của Nhóm tư vấn (CG).

Những hoạt động chính của quan hệ đối tác CCHc được tiến hành thông qua các cuộc họp thường niên, bán thường niên các dự án CCHC và diễn đàn đối tác, cũng như các cuộc họp không chính thức diễn ra trong năm. Ngoài ra, mạng website về CCHC và các chuyến nghiên cứu, khảo sát chia sẻ kinh nghiệm giữa các dự án cũng là một phương thức hữu hiêu trong việc chuyển tải và trao đổi thông tin.

2- Khái quát về tình hình CCHC

Năm 2007 là năm có nhiều sự kiện quan trọng có liên quan trực tiếp đến cải cách hành chính. Vì vậy, Cải cách Hành chính đã được đặc biệt quan tâm. Tại phiên họp Chính phủ đầu tiên của năm 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặc biệt nhấn mạnh: cải cách hành chính là một trong 3 nhiệm vụ trọng tâm của năm 2007. Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý cán bộ công chức. Trên tinh thần đó, ngày 07/11/2007, Chính phủ đã ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết. Chương trình hành động đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu sau:

1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính;
2- Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp;
3- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế;
4- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính - khâu đột phá của cải cách hành chính;
5- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước;
6- Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức;
7- Cải cách tài chính công;
8- Hiện đại hoá nền hành chính;
9- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính Nhà nước với nhân dân, huy động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân và xã hội vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước;
10- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước các cấp và cán bộ, công chức đối với công tác cải cách hành chính.

II. Hỗ trợ của quan hệ đối tác đối CCHC đối với chương trình tổng thể CCHC năm 2007.

1- Hỗ trợ thông qua các dự án song phương và đa phương

Quan hệ đối tác CCHC năm 2007 đã hỗ trợ thực hiện Chương trình tổng thể CCHC thông qua các dự án CCHC và dự án có thành tố về CCHC theo quan hệ song phương và đa phương, các cuộc đối thoại về cải cách hành chính và sự lồng ghép CCHC với Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ. Đặc biệt, năm 2007 đã tập trung đánh giá và tài liệu hoá số mô hình cải cách hành chính nổi bật đã được các dự án CCHC thí điểm trong nhiều năm qua. Đây là những kết quả được kiểm nghiệm qua thực tiễn, được đánh giá rút kinh nghiệm, và được mô hình hoá để nhân rộng trên quy mô cả nước. Năm 2007, 9 mô hình đã được đánh giá và tài liệu hoá, 01 mô hình được đánh giá và 01 mô hình được nhân rộng thí điểm. Cụ thể:

1. Các mô hình áp dụng cơ chế 1 cửa: Để áp dụng tốt cơ chế 1 cửa, Dự án CCHC TP Hồ Chí Minh đã trải qua một thời gian dài thử nghiệm nhiều phương pháp với những mô hình khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời điểm và điều kiện kinh tế xã hội của thành phố. Và mô hình được thử nghiệm sau là sự cải tiến và nâng cấp của các mô hình thí điểm trước. 03 mô hình áp dụng cơ chế 1 cửa của TP Hồ Chí Minh đó là: “Mô hình một cửa đơn giản”, “Tổ nghiệp vụ hành chính công”,  “Tổ công tác liên ngành”, và “Mô hình một dấu”.

Nếu như “Mô hình 1 cửa đơn giản” đã khá thành công trong việc xây dựng được một đơn vị tổ chức đảm bảo việc nhận mọi yêu cầu và kết quả xử lý các yêu cầu dịch vụ công  của nhân dân thì mô hình “Tổ nghiệp vụ hành chính công” là một nỗ lực tiếp theo nhằm tăng cường hiệu quả bên trong của đơn vị tổ chức đó thông qua việc tách và đưa ra các chức năng dịch vụ công của các phòng ban chức năng liên quan về đơn vị này. Mặt khác, “Mô hình một cửa đơn giản” và “Tổ nghiệp vụ hành chính công” được thiết kế và vận hành ở các cấp quận/huyện và phường xã hoặc trong một phạm vi sở/ngành riêng lẻ. Do vậy, việc áp dụng cơ chế một cửa đối với các yêu cầu dịch vụ hành chính công đòi hỏi sự tham gia của nhiều sở/ngành và các cấp quận/huyện cần có một mô hình mới, đó là “Tổ công tác liên ngành”.

Tính khả thi để nhân rộng mô hình: Các mô hình này có thể được nghiên cứu và áp dụng trên quy mô cả nước, đặc biệt là giải pháp về cáu trúc tổ chức và nhân sự, lĩnh vực dịch vụ và cơ sở vật chất. Đặc biệt đối với mô hình Tổ công tác liên ngành có thể được áp dụng cho tất cả các địa phương, đặc biệt những nơi đang nỗ lực thu hút đầu tư có liên quan đến đất đai. Ngoài ra, mô hình này là một mô hình tốt để phối hợp công tác giữa các Bộ, ngành trung ương với các UBND các tỉnh, tnành phíi trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai và đầu tư

2- Mô hình “Một dấu”: Khác với mô hình theo cơ chế một cửa, Mô hình Một dấu được triển khai trên cơ sở cấu trúc tổ chức sẵn có của UBND Quận/Huyện, nó không đòi hỏi phải thành lập một bộ phận mới, không đòi hỏi phải điều động hoặc tuyển dụng nhân sự mới, không cần thành lập trụ sở mới và cung cấp trang thiết bị. Mô hình một dấu chủ yếu nhằm tác động vào chức năng, nhiệm vụ cũng như mối quan hệ giữa các phòng ban chuyên môn. Đến nay, TP HCM đã có 100% số quận/huyện triển khai Mô hình Một dấu. Thực hiện mô hình này đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận sau:

- Đã hạn chế được số lượng văn bản ban hành ra ngoài UBND Quận/Huyện, và do đó hạn chế được sự chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn trong nội dung các văn bản được ban hành.
- Nâng cao trách nhiệm của các Trưởng phòng, ban trong việc xử lý giải quyết các công việc thuộc chuyên môn, nghiệp vụ và ký ban hành các văn bản.
- Số lượng văn bản do Lãnh đạo UBND Quận/Huyện phải ký được giảm đáng kể, tạo điều kiện cho Lãnh đạo tập trung nhiều hơn vào việc giải quyết những lĩnh vực quan trọng như phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch đào tạo cán bộ, xây dựng và củng cố chính quyền.Hạn chế lãnh đạo phải giải quyết công việc mang tính chất sự vụ hàng ngày.
- Phân định rõ trách nhiệm và thẩm quyền giữa cơ quan có thẩm quyền chung và cơ quan có thẩm quyền chuyên môn.

Tính khả thi để nhân rộng mô hình: Các địa phương khác có thể nghiên cứu và áp dụng mô hình một dấu của TP HCM.

3- Mô hình Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000

Sau khi triển khai mô hình Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 tại 33 cơ quan hành chính tại TP Hồ Chí Minh, có thể rút ra kết luận về kết quả và tác động của Mô hình như sau:
- Khách hàng được tôn trọng và được lắng nghe ý kiến; không những giải quyết đúng hẹn và đúng nội dung yêu cầu của khách hàng, cơ quan hành chính còn chủ động thực hiện thăm dò sự hài lòng của khách hàng để tạo cơ sở cho cải tiến chất lượng phục vụ công chúng;
- Đảm bảo các hồ sơ giao dịch hành chính được giải quyết đúng luật và đúng hạn; các thủ tục và quy trình hành chính đã được đơn giản, thuận tiện, giảm phiền hà cho khách hàng.
- Ý thức trách nhiệm của từng công chức trong bộ máy quản lý được nâng cao; phân công trách nhiệm cụ thể và rõ ràng giữa cán bộ công chức của từng khâu thực hiện quá trình tạo sản phẩm.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được kiện toàn, cập nhật liên tục và đảm bảo tính phù hợp
- Bộ máy hành chính được sắp xếp gọn nhẹ, khoa học, ít trung gian và đầu mối.
- Tạo cơ sở để cải tiến liên tục chất lượng trong dịch vụ hành chính. ISO 9001:2000 là một hệ thống quản lý tự hoàn thiện, cải tiến liên tục hướng tới sự hài lòng của khách hàng ngày càng cao, cải tiến phương pháp làm việc, sự phối hợp giữa các khâu, các bộ phận, các phòng ban; giải quyết được những trục trặc, giao diện giữa các cấp lãnh đạo và thừa hành.

Tính khả thi của việc nhân rộng mô hình:

HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 là một công cụ quản lý phù hợpvà khả thi trong hoàn cảnh hiện nay của nước ta. Tiêu chuẩn này không đòi hỏi kinh phí quá nhiều, cơ sở hạ tâng, cơ sở vật chất quá cao, quá mức; không làm thay đổi cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính… Yếu tố quyết định sự thành công của mô hình quản lý này là sự quyết tâm của ban lãnh đạo và sự tham gia của mọi người trong cơ quan hành chính.

HTQLCL này áp dụng được đối với mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình tổ chức, không phân biệt ngành nghề, sản phẩm, quy mô. Riêng đối với cơ quan hành chính nhà nước, HTQLCL có thể nhân rộng, áp dụng đối với tất cả các cơ quan từ trung ương đến cơ sở.

Trong quá trình duy trì HTQLCL, ngoài việc đảm bảo khả năng duy trì và định kỳ cập nhật phiên bản mới của ISO 9001:2000, cơ quan hành chính cần lưu ý đến mở rộng sản phẩm hay lĩnh vực áp dụng.

4- Mô hình Hệ thống quản lý theo kết quả (PMS).

Sau khi triển khai thí điểm tại 3 Sở và 2 Quận/Huyện tại TP Hồ Chí Minh, có thể rút ra kết luận đối với việc áp dụng mô hình PMS tại các cơ quan hành chính nhà nước như sau:

Việc thực hiện hệ thống quản lý theo kết quả (HTQLTKQ) được coi là khâu đột phá mới trong cách tiếp cận quản lý đối với công tác hành chính nhà nước và đã thu được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Cụ thể:
- Trong giai đoạn thiết kế, HTQLTKQ đã giúp đơn vị chủ trì hình dung ra tất cả điều kiện khó khăn và các điều kiện cần và đủ để thực hiện mục tiêu công việc
- Trong quá trình triển khai, có xây dựng hệ thống kiểm tra và giám sát các đầu ra xem có bị vướng mắc hay có gì phát sinh để có giải pháp giải quyết kịp thời
- Chú trọng quản lý theo kết quả hơn là quản lý số lượng. Chất lượng nội dung công việc có tăng lên do có phân công tách bạch nhiệm vụ của các đơn vị liên quan
- Cơ chế báo cáo khá đơn giản, súc tích và nhanh gọn, giúp lãnh đạo đánh giá nhanh kết quả
- Thu thập số liệu để đánh giá kết quả hoàn thành có chính xác hơn, không dùng số liệu ước tính, không có cơ sở.
- Công tác phối hợp nội bộ tốt và rõ ràng hơn.

Tính khả thi để nhân rộng mô hình

Theo kết quả đánh giá, Mô nhình này có thể áp dụng được sang các đơn vị khác thuộc TP Hồ Chí Minh và áp dụng sang các Bộ, ngành trung ương và các tỉnh, thành phố khác trên cả nước.

Đối với TP Hồ Chí Minh:
- Nhân rộng theo chiều ngang: Mô hình này có thể được nhân rộng sang các đơn vị khác. Việc nhân rộng này có thể theo các bước và nội dung mà các đơn vị thí điểm đã tiến hành.
- Nhân rộng theo chiều dọc: Mô hình này có thể được nhân rộng ở cấp phường, xã. Tuy nhiên cần lưu ý đến trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ của cấp này. Có thể trong giai đoạn đầu, nên cử chuyên gia tư vấn ở cấp quận/huyện đến các phường/xã để xây dựng đề án HTQLTKQ và hướng dẫn cán bộ cơ sở cách thức triển khai.

Đối với các địa phương khác.

Các địa phương hoàn toàn có thể xem xét để triển khai thí điểm HTQLTKQ tại địa phương mình trong thời gian sớm nhất. Điều quan trọng nhất để bắt đầu thí điểm là nên tổ chức tham quan, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trước khi quyết định triển khai. Cần hết sức chú trọng đến sự cam kết và hỗ trợ của cấp lãnh đạo cao nhất của địa phương, đồng thời cần có những tính toán phù hợp trong việc bố trí ngân sách cũng như tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để triển khai mô hình.

5- Mô hình “Phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Việc triển khai mô hình phân cấp Phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Vĩnh Phúc bước đầu đã có những kết quả và tác động đáng ghi nhận, cụ thể:

Thực hiện mô hình này đã góp phần phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị về quản lý công tác tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức, trên cơ sở phân định rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong quản lý công tác tổ chức, cán bộ. Đồng thời, mô hình này cũng góp phần tạo điều kiện để các đơn vị sự nghiệp tự chủ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý, sử dụng biên chế và kinh phí. Có điều kiện xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp, phát huy các nguồn lực, phụ vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân góp phần nâng cao đời sống cán bộ, công chức. Ngoài ra, áp dụng mô hình này cũng góp phần giảm bớt các thủ tục hành chính và thời gian giải quyết công việc, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

Tính khả thi để nhân rộng mô hình:

Mô hình này cần tiếp tục được thí điểm, mở rộng thí điểm, và hoàn thiện trước khi tiến hành nhân rộng. Đồng thời, để thực hiện tốt mô hình này, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác tổ chức, biên chế và quản lý cán bộ công chức, viên chức phải đồng bộ và tiếp tục được hoàn thiện.

6- Mô hình xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, cấp tỉnh của tỉnh Bắc Ninh.

Mô hình xây dựng cơ cấu cán bộ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, cấp tỉnh của Bắc Ninh đã bước đầu đáp ứng được mục tiêu hoàn thiện hơn nữa công tác tổ chức và quản lý cán bộ, công chức ở địa phương và mang lại một số kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:

- Về tổ chức bộ máy: bước đầu đã góp phần tách hoạt động dự nghiệp ra khỏi hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá thể thao, nông nghiệp, kế hoạch đầu tư, công nghiệp, xây dựng…
- Về công tác biên chế và cơ cấu công chức: đã xác định một cách tương đối có căn cứ khoa học trong việc xác định số lượng biên chế đủ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, cơ cấu ngạch công chức đối với cấp huyện và cấp sở.
- Trên lĩnh vực bố trí, sử dụng cán bộ, công chức: đã xây dựng kế hoạch điều chỉnh, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng những người có đủ tiêu chuẩn đảm đương từng công việc cho phù hợp, đảm bảo hoàn thiện nhiệm vụ được giao; đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị
- Trên lĩnh vực quản lý điều hành nhiệm vụ được giao: đã xác định được kết quả thực hiện nhiệm vụ trên từng lĩnh vực, qua đó nắm được lĩnh vực nào triển khai, thực hiện tốt, lĩnh vực nào còn hạn chế,… từ đó có biện pháp điều chỉnh.
- Trên lĩnh vực xây dựng quy trình làm việc, cải cách thủ tục hành chính: xác lập được quy trình làm việc khoa học, hiệu quả, qua đó các thủ tục hành chính cũng được xác định rõ ràng, công khai, minh bạch, thuận tiện cho việc áp dụng cơ chế “một cửa” tại các cơ quan, đơn vị.

Tính khả thi để nhân rộng mô hình: Mô hình xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và tỉnh của Bắc Ninh đã thực sự đóng góp hiệu quả cho việc giải quyết những khó khăn hiện nay trong công tác tổ chức, quản lý cán bộ, công chức. Mô hình này cần tiếp tục được hoàn thiện để triển khai nhân rộng sang các sở, ban ngành và các huyện khác của tỉnh. Đồng thời, nhân rộng sang các địa phương khác trên cả nước. Các kỹ thuật Phân tích công việc, Đo lường công việc và xác định biên chế sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý cán bộ, công chức nói chung. Cần tổ chức các khoá tập huấn về các kỹ thuật này cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, nhân sự trong cả nước.

7- Mô hình “Xây dựng hệ thống quản lý thông tin đô thị (GIS) của Thành phố Đà Lạt.

Mô hình “Xây dựng hệ thống quản lý thông tin đô thị (GIS) của TP Đà Lạt”  tập trung chủ yếu vào hệ thống thông tin quản lý đất đai, đất đai xây dựng và hệ tác nghiệp các hồ sơ liên quan đến đất đai xây dựng. Mô hình này đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý đô thị và mang lại một số kết quả cụ thể:
- Xây dựng thiết kế mô hình tổng thể hệ thống, mô hình cơ sở dữ liệu, quy trình xây dựng và khai thác hệ thống quản lý thông tin đô thị
- Xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin đô thị
- Xây dựng chương trình quản lý đô thị với các mô-đun: chương trình quản lý quy hoạch, chương trình quản lý nhà, chương trình quản lý đất đai, quản lý cấp giấy chứng nhận, chương trình quản lý hệ thống giao thông.
- Các tài liệu tập huấn, gồm: sử dụng các phần mêm GIS, sử dụng phần mềm ứng dụng, hướng dẫn khai thác hệ thống.

Tính khả thi để nhân rộng mô hình: Mô hình này đã có những tác động tích cực và hỗ trợ đắc lực cho công tác cải cách thủ tục hành chính đạt hiệu quả trên địa bàn thành phố; đồng thời giúp cho việc phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin chính xác trong các thao tác về nghiệp vụ chuyên môn ở các lĩnh vực nhà - đất, cấp giấy phép xây dựng, quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị. Mô hình này cần được nhân rộng sang các đô thị khác trên cả nước.

Ngoài các mô hình đã được đánh giá và tài liệu hoá nêu trên, trong năm qua, cộng đồng tài trợ quốc tế cũng đã hỗ trợ thực hiện và đánh giá một số mô hình điển hình sau:

-  Mô hình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo cơ chế 1 cửa tại Tỉnh Quảng Trị. Mô hình này đã được nhận rộng sang 4 tỉnh khác của Miền Trung đó là: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế. Tháng 10 và thang 11/2007, Sida Thuỵ điển đã hỗ trợ đánh giá tác động của mô hình này trên cơ sở đó có những kiến nghị hoàn thiện và nhân rộng mô hình sang các địa phương khác.

- Mô hình trung tâm một cửa liên thông tại Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Học tập kinh nghiệm từ các mô hình dịch vụ hành chính một cửa hiện đại của TP Hải Phòng, mô hình dịch vụ một cửa liên thông của TP Hồ Chí Minh, Dự án CCHC tỉnh Ninh Bình do Chính phủ Nauy tài trợ đã xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm một cửa liên thông hiện đại tại (TTMCLTHĐ) tại Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Điểm mới trong trung tâm dịch vụ một cửa liên thông hiện đại là trung tâm thực hiện liên thông với Chi cục Thuế, Kho bạc và UBND các phường, xã; Chi cục thuế, Kho bạc phân công cán bộ làm việc ngâytị Trung tâm nhờ vậy, người dân không phải đi lại nhiều lần.

Để có được mô hình thành công, có thể được thể chế hoá và áp dụng rộng rãi trên quy mô cả nước, đòi hỏi phải có một thời gian dài và sự nỗ lực bền bỉ của các phía Việt Nam và cộng đồng tài trợ

Hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

- Dự án Hỗ trợ kỹ thuật của ADB hỗ trợ Bộ Nội vụ về hiện đại hóa đào tạo cán bộ công chức

Sự chuyển đổi sang hình thức đào tạo dựa trên năng lực hiện nay cần có những tiêu chí để đánh giá chất lượng và tác động đào tạo đối với kết quả công việc. Trong khuôn khổ Hỗ trợ kỹ thuật của ADB, ADB đã hỗ trợ Bộ Nội vụ xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá (M&E) cho hoạt động đào tạo cán bộ công chức, cụ thể là xây dựng các tiêu chí M&E, các công cụ và quy trình thủ tục soạn giáo trình đào tạo, tổ chức các khóa đào tạo, đào tạo giảng viên, các tổ chức đào tạo và xác định lại các yêu cầu báo cáo. 

- Hỗ trợ của ADB cho Thanh tra Chính phủ về chống tham nhũng

ADB đã hỗ trợ Thanh tra Chính phủ tổ chức Hội nghị lần thứ 10 của Hiệp hội Thanh tra châu Á tại Hà Nội vào tháng 5/2007, nhằm mục đích trao đổi thảo luận về vai trò của Thanh tra tại các quốc gia thành viên và kinh nghiệm của các quốc gia về chống tham nhũng. Trong khuôn khổ hỗ trợ này, lần đầu tiên một trang web về chống tham nhũng được xây dựng và triển khai vào ngày 28/6/2007. Trang web này là một kênh thông tin có ích để nâng cao nhận thức về các hoạt động chống tham nhũng, và đã tạo ra một giao diện thân thiện với người sử dụng để thúc đẩy các công dân tham gia chống tham nhũng. Trang web được triển khai do quan điểm cho rằng xã hội dân sự là chủ thể phù hợp nhất để phản ánh những khiếu nại của công dân và kiến nghị cho Chính phủ các hành động cần ưu tiên trong chống tham nhũng.

2- Các dự án  được ký kết và đưa vào hoạt động năm 2007:

- Dự án hỗ trợ cải cách hành chính công tỉnh Cao Bằng, giai đoạn II (2007-2010) do cơ quan Hợp tác phát triển Thuỵ sỹ (SDC) tài trợ. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực, khả năng đáp ứng, trách nhiệm giải trình, tính bao quát và minh bạch của các cấp chính quyền địa phương.

- Dự án hỗ trợ cải cách hành chính tỉnh Hậu Giang do Chính phủ Bỉ tài trợ giai đoạn 2007-2011. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ nâng cao năng lực về thể chế và nhân lực, cơ cấu tổ chức và hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương trong lĩnh vực lập kế hoạch phát triển, lập ngân sách và cung ứng dịch vụ công.

- Dự án  hỗ trợ thực hiện chương trình cải cách hành chính tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tới năm 2010 do Chính phủ Hà Lan và UNDP đồng tài trợ. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ Bộ NN&PTNT trở thành một bộ quản lý vĩ mô hiện đại, chịu trách nhiệm hoạch định và thực hiện chính sách, tổ chức và quản lý cung cấp dịch vụ công cho nông dân với tiêu chuẩn dịch vụ công được xác định rõ ràng và chất lượng dịch công được giám sát chặt chẽ, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

- Dự án hỗ trợ thực hiện dân chủ ở cơ sở tại tỉnh Thái Bình do chính phủ Phần lan tài trợ (giai đoạn 2007-2008). Mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực thực hiện quy chế dân chủ của tỉnh góp phần hoàn thiện chính sách và triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở.

3- Tiếp tục cam kết những hỗ trợ mới cho CCHC của cộng đồng tài trợ.

Ngoài việc tiếp tục hỗ trợ các dự án CCHC đang được thực hiện tại các Bộ, ngành, địa phương trên cả nước, một số nhà tài trợ có những cam kết hỗ trợ mới cho những nỗ lực này, cụ thể:

- Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và nhóm tài trợ đồng quan điểm LMDG: sẽ tiếp tục hỗ trợ thực hiện Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2. Hiện nay, các Bên đang thảo luận và xác định những nội dung cần hỗ trợ. Ngoài ra, UNDP cũng đang hỗ trợ UBND TP Hồ Chí Minh xây dựng văn kiện dự án hỗ trợ thực hiện chương trình CCHC của TP.

- Cơ quan hợp tác quốc tế Đan Mạch (Danida): cam kết hỗ trợ 4 tỉnh Kon-tum, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên thực hiện cải cách hành chính tại các tỉnh này.

- Cơ quan hợp tác phát triển Thuỵ điển (Sida) sẽ xem xét hỗ trợ cho Bộ Nội vụ, tỉnh Quảng Trị, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Viện quản lý kinh tế Trung ương Bộ Kế hoạch và Đầu tư các dự án về tăng cường năng lực quản lý cán bộ công chức, cải cách hành chính và nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

- Bộ Nội vụ là cơ quan chủ trì xây dựng Luật Công chức, dự kiến sẽ được ban hành vào cuối năm 2008. Do tính cấp bách của nhiệm vụ này và ý nghĩa quan trọng của văn bản luật, theo đề nghị của Bộ Nội vụ, ADB hiện đang hỗ trợ Bộ Nội vụ xây dựng và triển khai Luật Công chức. Kết quả dự kiến bao gồm đưa ra khái niệm để chuyển hệ thống công chức sang quản lý theo kết quả và theo định hướng dịch vụ, góp phần nâng cao chất lượng, năng lực, tính chuyên nghiệp và đạo đức của cán bộ công chức.

III. Nhận xét và kiến nghị

Nhìn chung, năm 2007, hoạt động đối tác về cải cách hành chính đã có những đóng góp đáng kể cho việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Việt Nam. Các hoạt động tổng kết, đánh giá và tài liệu hoá các mô hình đã được thí điểm, kiểm nghiệm trong quá trình thực hiện cải cách hành chính trong thời gian qua đã tạo đà cho việc phổ biến và áp dụng rộng rãi những mô hình, phương pháp quản lý mới tại các bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, năm 2007, do những lý do khách quan và chủ quan, các cuộc trao đổi, đối thoại chính sách giữa Việt Nam và cộng đồng tài trợ đã chưa được thường xuyên. Các hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm vẫn còn hạn chế. Để đẩy mạnh hoạt động đối tác nhằm mang lại hiệu quả thiết thưc, năm 2008 cần thực hiện một số công việc sau:
- Tổ chức các cuộc họp chính thức và không chính thức và các cuộc hội thảo tập trung thảo luận sâu những vấn đề cụ thể mà các bên quan tâm về CCHC
- Tạo điều kiện kết nối CCHC với các chương trình cải cách khác (chương trình chống tham nhũng, chương trình cải cách lập pháp...)
- Tổ chức một số cuộc hội thảo quốc tế về những vấn đề quan tâm, như (i) phân cấp quản lý, (ii) nâng cao hiệu quả quản lý khu vực công thông qua việc áp dụng chính phủ điện tử; (iii) xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá, (iv) quản lý công chức, công vụ; (v) phương pháp tổ chức và quản lý công tác CCHC tại địa phương vùng nông thôn.
- Hoàn thiện và đưa vào thực hiện Chương trình đẩy mạnh thực hiện giai đoạn II Chương trinh Tổng thể CCHC do UNDP và các nước đồng quan điểm (LMDG) tài trợ.
- Trên cơ sở những mô hình đã được đánh giá và tài liệu hoá, đề nghị cộng đồng tài trợ xem xét hỗ trợ một số địa phương nhân rộng các mô hình này để đảm bảo sự tác động rộng rãi và tính bền vững của kết quả các dự án.

Những kiến nghị trên có được thực hiện thành công vào năm 2008 hay không còn phụ thuộc vào ý chí và quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, cộng đồng tài trợ quốc tế, đồng thời phụ thuộc vào năng lực và nguồn lực cũng như công tác phối hợp giữa các bên tham gia vào chương trình tổng thể cải cách hành chính.

 




Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/SST5I4YZQ0