Kế hoạch 5 năm mới cho Việt Nam

Cũng có ở: Français, Español, العربية, 中文, English

Ngày 5 tháng 2 năm 2007 – Ngân hàng Thế giới công bố sẽ đầu tư hơn 800 triệu đô la Mỹ/năm trong vòng năm năm tới dưới dạng các khoản vay và viện trợ không lãi cho Việt Nam - một đất nước mà Ngân hàng Thế giới cho rằng có tiềm năng là một trong những câu chuyện thành công nhất về phát triển.

Sự hỗ trợ này được Phó Chủ tịch mới của Ngân hàng Thế giới phụ trách khu vực Đông Á Thái Binh Dương, ông Jim Adams, thông báo ngày hôm nay tại Hà Nội khi đưa ra Chiến lược Hợp tác Quốc gia mới của Ngân hàng cho Việt Nam.

Bản Chiến lược này đề cập đến những hoạt động trong tương lai của Ngân hàng với Việt Nam và mô tả thành công của Việt Nam trong việc xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế là “ngoạn mục”.

Trong vòng 15 năm qua, tỉ lệ nghèo đói của Việt Nam đã giảm từ 60% xuống còn dưới 20%. Tỉ lệ thu nhập thực sự đã tăng lên 7.3%/năm trong vòng 10 năm qua.

“Có thể nói rằng không có quốc gia nào trên thế giới, trong vòng 15 năm qua, đã phát triển xa và nhanh đến vậy”, nguyên Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, ông Klaus Rohland nói.

“Việt Nam, từ một nước phải nhập khẩu gạo cho người dân, đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới”.

Tuy nhiên, ông Rohland nói rằng Việt Nam vẫn gặp phải nhiều thách thức khi hiện thực hoá các mục tiêu của mình để trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2010.

“Việt Nam muốn kết thúc thời kỳ quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trường trong vòng năm năm tới và muốn thực hiện điều đó thì thực sự cần phải chú trọng vào việc xây dựng thể chế”, ông Rohland nói. Vấn đề này bao gồm việc củng cố lĩnh vực ngân hàng, cải tiến hệ thống chăm sóc y tế và “một hệ thống luật pháp được xây dựng dựa trên những gì người dân tin là đúng hoặc sai và phản ánh nhu cầu của một nền kinh tế thị trường hiện đại”.

Đó là sự chuyển động mà ông Rohland mô tả “gần như là một cuộc chạy đua với thời gian.”

“Nền kinh tế thị trường và quá trình chuyển đổi thành nền kinh tế thị trường đang tiến triển với tốc độ của nó”, ông Rohland nói. “Và chúng ta cần phải chắc chắn rằng khoảng cách giữa một nền kinh tế thị trường thực sự và các thể chế, mà sẽ xảy ra trong một nền kinh tế thị trường thái quá, cần phải được thu hẹp hết mức có thể.”

Đó cũng là quan điểm trong bản Chiến lược Hợp tác Quốc gia của Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam. Bản Chiến lược này nhấn mạnh sự hỗ trợ của Ngân hàng để cải tiến môi trường kinh doanh của Việt Nam. Sự hỗ trợ sẽ tập trung vào cải cách ngành ngân hàng và phát triển khu vực tài chính, cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng như hỗ trợ cho khu vực tư nhân mới nổi trong nước và sự tham gia của khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng.

Bản Chiến lược cũng đề cập rằng trong khi sự phát triển của Việt Nam thường được coi một cách đúng đắn là một câu chuyện thành công thì “vẫn có những vấn đề có thể gây rủi ro cho sự phát triển trong tương lai của Việt Nam”. Bản Chiến lược nêu lên vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước và cải cách các ngân hàng thương mại quốc doanh là chậm trễ so với các cải cách khác.

Chiến lược Hợp tác Quốc gia năm 2007 – 2011 cũng sẽ tập trung vào việc củng cố quản trị và các biện pháp chống tham nhũng bằng cách tập trung các nỗ lực để cải tiến quản lý tài chính công, trách nhiệm giải trình và sự minh bạch. Ngân hàng Thế giới nói rằng quan hệ hợp tác với các nhà tài trợ khác cũng sẽ rất cần thiết để đạt được tiến triển trong vấn đề quản trị.

Bản Chiến lược của Ngân hàng cũng đưa ra một sự thật là tình trạng nghèo đói ở Việt Nam xảy ra chủ yếu ở khu vực nông thôn và tiến độ xoá đói giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số diễn ra còn chậm. Các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% số dân nhưng họ chiếm đến 39% số người nghèo.

Bản Chiến lược đưa ra các ưu tiên hỗ trợ trong tương lai của Ngân hàng để giúp người nghèo và người tàn tật, tăng cường sự tiếp cận với cơ sở hạ tầng và các dịch vụ y tế cơ bản cho người nghèo ở vùng nông thôn.

Ông Rohland khẳng định rằng Việt Nam đã thành công trong việc phát triển cân bằng nhưng vẫn cho rằng trong tương lai, Việt Nam sẽ còn gặp phải trở ngại.

“Sự bất bình đẳng có thể là một phần của bất kỳ quá trình phát triển nào nhưng bất bình đẳng quá mức sẽ gây ra sự bất ổn và biến động về chính trị và xã hội. Việt Nam có thể tự hào về những gì mình đã đạt được về mặt liên kết xã hội và nên tiếp tục đi theo con đường đó.”

* = Tiếng Việt

What do you think of this article? Send us your comments.



Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/GW4A5S9G00