Ngân hàng Thế giới Tăng cường Hỗ trợ Giáo dục Đại học của Việt nam

Cũng có ở: English

Ngày 3 tháng 8 năm 2009 - Ngân hàng Thế giới gần đây đã thông qua khoản tín dụng trị giá 50 triệu đô la cho Chương trình Chính sách Phát triển Giáo dục Đại học của Việt Nam và 127 triệu đô la cho Chương trình Bảo đảm Chất lượng Giáo dục Trường học. Trong cuộc phỏng vấn này, Jeffrey Waite, Chuyên gia đầu ngành về Giáo dục và Phát triển nhân lực tại Văn phòng Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam nói rõ thêm về sự hợp tác giữa Ngân hàng Thế giới với Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Xin ông cho biết ý nghĩa của khoản hỗ trợ ngân sách trực tiếp này?

Đây là khoản tín dụng hỗ trợ ngân sách trực tiếp cho ngành giáo dục Việt Nam, gọi là DPL. Thay vì hỗ trợ các khoản đầu tư cụ thể như xây dựng trường, nâng cao trình độ giáo viên, cải tiến chương trình giảng dạy, Ngân hàng Thế giới sẽ chuyển giao các nguồn lực cho Chính phủ Việt Nam một lần kênh duy nhất vì nhận thấy Chính phủ đã áp dụng các biện pháp tích cực đối với giáo dục đại học.

Điều này có nghĩa là Chính phủ sẽ chủ động hoàn toàn?

Đúng như vậy. Khoản tín dụng này cho thấy rằng Chính phủ hoàn toàn có thể thực hiện được chiến lược phát triển đại học của mình trong giai đoạn 2006-2010. Khi thực hiện chiến lược này, Chính phủ đã thực thi nhiều giải pháp chính sách trong các lĩnh vực như tăng quyền cho các trường, cấp tài chính, bảo đảm chất lượng và quản lý tài chính công.

Ngân hàng Thế giới đã giúp Chính phủ thực hiện chiến lược này như thế nào?

Chúng tôi đã có các chương trình trong ngành giáo dục ở Việt nam từ đầu những năm 90 và giáo dục đại học từ giữa năm 90. Cho tới khi có khoản tín dụng này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp cho vay đầu tư và công tác phân tích để giúp Chính phủ vừa đề ra chính sách vừa thực hiện cải cách. Bây giờ chúng tôi sử dụng tín dụng này như một công cụ mới nhưng vẫn tiếp tiếp sử dụng cho vay đầu tư để cung cấp cho Chính phủ hỗ trợ kỹ thuật cần thiết cho việc chuẩn bị thiết kế các chính sách.

Vậy ông hy vọng kết quả dự án này sẽ như thế nào?

Chúng tôi hy vọng tỷ lệ thanh niên học đại học sẽ tăng lên vì Chính phủ đã đề ra một mục tiêu lớn là tăng 40% số lượng thanh niên học đại học vào năm 2020. Ngoài ra, chúng tôi hy vọng chất lượng và tính tương thích của dịch vụ giáo dục đại học sẽ được cải thiện hơn nữa.

Theo ông thì những vấn đề chính của giáo dục đại học ở Việt Nam là gì?

Những thách thức chính mà Việt nam đối mặt trong giáo dục đại học là vai trò của Chính phủ và của các cơ sở giáo dục đại học. Khi chỉ có một số ít học sinh tiếp tục học lên đại học thì Chính phủ có thể quản lý được hệ thống một cách trực tiếp. Tuy nhiên khi hệ thông này mở rộng cả về số lượng học sinh và số lượng các cơ sở giáo dục đại học thì Chính phủ không thể quản lý các cơ sở này hàng ngày. Chính phủ sẽ phải chuyển từ vai trò người quản lý hàng ngày sang người "chỉ huy" hệ thống. Với tư cách là người chỉ huy, chính phủ sẽ đưa ra đường hướng chính sách chung đảm bảo cấp vốn đủ và hợp lý cho giáo dục đại học. Điều đó đảm bảo rằng thông tin của ngành sẽ đến được với học sinh, phụ huynh, cán bộ công nhân viên và tất cả người dân. Việc quản lý hàng ngày sẽ được chuyển giao cho lãnh đạo các trường đại học, giao thêm quyền tự chủ cho họ quyết định thuê nhân viên, lựa chọn giáo trình và tài trợ các hoạt động khác nhau. Đây là một thay đổi lớn cho các trường đại học và cao đẳng của Việt nam và là một thách thức lớn cho cả Chính phủ và các cơ sở giáo dục đào tạo.

Vậy có thể nói đây là một kế hoạch hết sức tham vọng?

Mặc dù đây là một kế hoạch rất tham vọng, Việt nam đã tiến bộ vượt bậc trong quá trình phát triển nhiều ngành khác nhau trong đó có giáo dục. Việt nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong việc tăng khả năng tiếp cận giáo dục cơ bản. Nên mặc dầu rất tham vọng, Việt nam có cơ sở để tin tưởng rằng sẽ có thể đạt được mục tiêu đề ra.

Một trong những vấn đề về giáo dục của Việt nam là mọi người rất lo ngại về chất lượng giáo dục. Ông nghĩ gì về vấn đề này?

Chất lượng là một thách thức rất lớn. Khi giáo dục mở rộng nhanh về số lượng, việc nâng cao và thậm chí duy trì chất lượng sẽ khó khăn hơn. Chính phủ Việt nam đã nhận thức được vấn đề này và đang đi đúng hướng, ví dụ như đang thúc giục phải có tỷ lệ giáo viên đại học có bằng tiến sỹ. Nghĩa là cần phải có những bước đi quyết liệt hơn nữa để các cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ hơn.

Chương trình Cải cách Giáo dục Đại học tại Việt Nam

Giáo dục của Việt nam đã phát triển nhanh chóng trong những năm qua, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đại học.

Số liệu từ Khảo sát Chuẩn Mức sống các Hộ dân Việt nam năm 1992-2006 cho thấy, phần trăm dân số giữa tuổi 25-55 không hoàn thành tiểu học giảm từ 23 phần trăm xuống còn 1 phần trăm.

Số lượng sinh viên theo học vào các trường cao đẳng và đại học đã tăng gần gấp đôi từ 900 ngàn sinh viên năm 2001 lên đến hơn 1.6 triệu sinh viên năm 2008.

Chính phủ Việt nam đã đề ra chi tiết các mục tiêu giáo dục đại học trong “Chương trình Nghị sự Cải cách Giáo dục Đại học 2006-2020”.

Các mục tiêu chính của chiến lược này là:

  • Tăng đáng kể năng lực cho phép tăng tỷ lệ tham gia vào các cơ sở giáo dục đại học (cấp 3), có nghĩa là đầu tư lớn vào cơ sở hạ tang và đào tạo đội ngũ giáo viên mới;
  • Tăng chất lượng đi đôi với việc cải thiện hệ thống giáo dục
  • Thành lập hoặc củng cố lại việc nghiên cứu tại các trường đại học – để có thể đào tạo giáo viên mới, nâng cao trình độ sư phạm của các giáo viên hiện tại và nâng cao trình độ chất lượng và hình ảnh của các trường đại học Việt Nam trên trường quốc tế;
  • Cải thiện trình độ quản lý của hệ thông giáo dục và nghiên cứu đại học theo cấp độ quốc gia và cấp độ khu vực cũng như của các trường đại học;

Việc phát triển một môi trường chinh sách cung cấp cho các trường đại học và cao đẳng những nguồn lực đầy đủ và sự tự chủ cần thiết cũng như động lực phát triển phù hợp là vô cùng quan trọng đối với việc cung cấp các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Điều này đòi hỏi phải có những cải cách căn bản trong lĩnh vực quản lý, tài chính và đảm bảo chất lượng.

Các chương trình giáo dục đại học và công tác nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới được thiết kế để giúp cho Chính phủ giải quyết các vấn đề chủ chốt này.

Sự Hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới

Chương trình Phát triển Chính sách Giáo dục Đại học (Dự án thứ 1) – một khoản dự án tín dụng trị giá $USD50 triệu được Ban Giám đốc Ngân hàng Thế giới phê chuẩn vào ngày 23 tháng 6 năm 2009, là Dự án Cho vay Phát triển Chính sách (DPL) đầu tiên vào lĩnh vực giáo dục đại học. Đây cũng là dự án đầu tiên trong một phần của chương trình đề xuất gồm 3 dự án. Dự án này hỗ trợ các chính sách của Chính phủ Việt nam để tăng cường công tác quản lý, phân bổ tài chính, cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, nâng cao hiệu quả thực hiện và cải thiện tính minh bạch trong quản lý tài chính trong lĩnh vực này.

Dự án thứ 2 bao gồm 1 khoản tín dụng trị giá 59,4 triệu đô và một khoản đồng tài trợ trị giá 4,8 triệu đô của Tổ chức Phát triển Nguồn Nhân lực và Chính sách Nhật bản bắt đầu từ năm tài chính 2008 đến năm tài chính 2012, có 3 phần chính:

Nâng cao năng lực trong việc phát triển chính sách giáo dục đại học;

  • Nâng cao nănglực cho việc giảng dạy và nghiên cứu bậc đại học chủ yếu thông qua các khoản tài trợ cạnh tranh;
  • Quản lý và đánh giá dự án.

Dự án các Trường Đại học Mô hình mới sẽ được trình với Ban giám đốc Ngân hàng Thế giới vào năm tài chính 2011 với một khoản cho vay trị giá 270 triệu đô la. Dự án sẽ hỗ trợ việc thành lập và phát triển hai “trường đại học kiểu mới” ở thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ với những cấu phần sau:

  • Khung chính sách và pháp lý
  • Phát triển đại học và nghiên cứu
  • Phát triển trường sở và trang thiết bị
  • Quản lý và đánh giá dự án

Các dự án dự kiến khác về lĩnh vực giáo dục đại học bao gồm: Dự án Cải tiến Khoa học và Công nghệ (năm tài chính 2012) và Quỹ cho vay Phát triển Đại học Tư thục (năm tài chính 2012).




Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/2CHPSP7310