Thủy điện Trung Sơn: Hỏi - Đáp

Thủy điện là gì?

Trên thế giới có rất nhiều dạng dự án thủy điện khác nhau, từ qui mô đến mục đích như dự án thủy điện đơn thuần hoặc dự án đa mục tiêu. Danh mục dự án thủy điện của Ngân hàng Thế giới còn bao gồm cả dự án thủy điện dòng chảy, cải tạo và hồ chứa.

  • Thủy điện dòng chảy: Là những dự án không gây ảnh hưởng đến dòng chảy tự nhiên, thường chỉ có khả năng điều tiết ngày đêm.
  • Thủy điện hồ chứa: Cho phép trữ nước theo mùa sử dụng cho nhiều mục đích.
  • Cải tạo: Là những dự án nâng cấp, sửa chữa và thay đổi quy trình vận hành của các công trình hiện có. Các dự án thủy điện này có thể là thủy điện dòng chảy hoặc hồ chứa.

Trung Sơn thuộc loại dự án hồ chứa.

Tại sao Trung Sơn được gọi là dự án đa mục tiêu?

Dự án đa mục tiêu mang lại nhiều lợi ích thể hiện qua thiết kế dự án và quy trình vận hành. Dự án đa mục tiêu là công cụ quản lý sử dụng nguồn nước như phát điện, tích nước chống lũ và hạn hán, cung cấp nước cho nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp. Nếu được triển khai và quản lý tốt, các công trình cơ sở hạ tầng đa mục tiêu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư đô thị và nông thôn ở các nước đang phát triển. Trung Sơn là một dự án phát điện đa mục tiêu và kiểm soát lũ.

Thủy điện có vai trò gì trên thế giới?

Hiện nay, 19% năng lượng của thế giới là từ thủy điện. Ở một số nước phát triển như Canada, Na-uy và Thụy Điển, thủy điện là nguồn năng lượng chính. Những nước là thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh Tế và Phát triển (OECD) đã khai thác khoảng 70% trữ lượng thủy điện của nước họ so với 5% của Tiểu sa mạc Sahara ở Châu Phi. Nhiều nước đang phát triển như Ấn độ, Trung Quốc và Đông Phi đang coi thủy điện là một cấu phần quan trọng trong kế hoạch năng lượng và sử dụng nguồn nước. Tỷ trọng của thủy điện trong nguồn điện của Việt Nam là 31%, phần còn lại từ các nguồn năng lượng khí và than.

Thủy điện khác các nguồn năng lượng khác thế nào?

Thủy điện, năng lượng tái tạo và nhiên liệu thải ít các-bon được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh Phát triển bền vững 2002 không phát thải ra các chất độc hại giống như nhiên liệu hóa thạch gồm khí tự nhiên, dầu hay than. Đồng thời, ở đa số các nước, thủy điện, năng lượng tái tạo và nhiên liệu thải ít các-bon là nguồn năng lượng trong nước và không bị biến động theo thị trường nhiên liệu hóa thạch quốc tế. Dự án có vốn đầu tư lớn nhưng lại có chi phí vận hành thấp. Ngoài ra, các dự án thủy điện có tuổi thọ cao, thường là 50 năm hoặc dài hơn.

Tại sao thủy điện lại phức tạp?

Ngân hàng Thế giới cho rằng rằng thủy điện là một công cụ hạ tầng quan trọng đóng góp đáng kể vào giảm nghèo. Tuy nhiên, như lịch sử cho thấy, phát triển bền vững luôn có những thách thức, những mối quan ngại về cân bằng giữa các khía cạnh môi trường, xã hội và kinh tế.  Ngân hàng Thế giới quan tâm sâu sắc đến giảm thiểu các tác động của những dự án thủy điện mới bằng việc buộc các dự án thực hiện chặt chẽ các chính sách về an toàn tuân thủ theo điều lệ cơ bản và ưu tiên chiến lược của Ủy ban Đập Thế giới và qui trình đánh giá của Hiệp hội Thủy điện Quốc tế.

Một trong những biện pháp quan trọng để giảm nhẹ tác động môi trường và xã hội là lựa chọn địa điểm tối ưu để đảm bảo dự án gây ra ít tác hại. Trung Sơn là địa điểm được lựa chọn trong số 4 địa điểm được khảo sát và tuân thủ theo các chính sách cũng như chính sách về an toàn của Ngân hàng Thế giới. 26 triệu đô la Mỹ được giành cho nâng cao cuộc sống và kế sinh nhai giúp những người bị ảnh hưởng và bảo vệ môi trường.
 
Thuỷ điện có những vấn đề đáng quan tâm nào?

Bảo vệ những người bị ảnh hưởng và môi trường là những mối quan tâm chính bên cạnh những tác động về tài chính của dự án.

Tác động môi trường:

Các dự án thủy điện tạo ra năng lượng tái tạo thải ra ít chất độc hại hơn những nhà máy nhiệt điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch như khí tự nhiên, dầu hay than. Một số dự án thủy điện gồm cả những dự án lớn đều tiềm ẩn những tác động tiêu cực đến môi trường nếu không được thực hiện một cách cẩn thận. Những dự án này có thế gây ngập và thay đổi dòng chảy tự nhiên làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Khi cân nhắc dự án, cần phải xem xét các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường và tính thích ứng tuân thủ theo các hướng dẫn về Đánh giá Tác động Môi trường và Kế hoạch Quản lý Môi trường.

Tác động thay đổi khí hậu:

Thay đổi khí hậu có thế tác động đến lưu lượng và chế độ dòng chảy tại khu vực dự án và vì thế tầm quan trọng của quy hoạch thủy điện, thử nghiệm kịch bản, thiết kế hạ tầng thông minh và linh hoạt cần được đặt lên hàng đầu. Công trình sử dụng nguồn nước và hồ tích nước là công cụ quan trọng để quản lý tác động của thay đổi khí hậu và thay đổi theo hướng tiêu cực của nguồn nước. Tích nước theo mùa có thể giúp cộng đồng tránh được lũ lụt, hạn hán và có nước sử dụng cho nhiều mục đích. Tuy nhiên, một số dự án có thiết kế chưa tốt có thể thải ra khí nhà kính. Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Đập Thế giới đã khẳng định, phải có chính sách an toàn môi trường nghiêm ngặt và lựa chọn địa điểm cẩn thận để giảm những tác động này.

Tác động xã hội: 

Đã có những nỗ lực to lớn để giảm thiểu tác động của các dự án thủy điện lên những người dân sinh sống tại địa phương và người bản xứ. Nếu phải di dời, cần áp dụng những biện pháp để giảm thiểu ở mức thấp nhất số người dân phải di chuyển và đưa ra những phương án tái định cư phù hợp cho những người dân bị ảnh hưởng.  Ngân hàng Thế giới coi việc di chuyển chỗ ở của người dân là vấn đề phải được cân nhắc cẩn thận khi xem xét dự án và có những chính sách an toàn để giảm thiểu tác động xã hội, bảo toàn văn hóa và cộng đồng, đảm bảo các bên liên quan, kể cả người nghèo đều được hưởng lợi ích.

Tài chính: 

Các dự án thủy điện đều có chi phí ban đầu cao, cần có khoản đầu tư tài chính lớn. Tuy nhiên, những dự án này lại có chi phí vận hành thấp. Những dự án này có vòng đời 50 năm hoặc lâu hơn, có doanh thu ổn định và vì vậy có thể đóng vai trò như dự án giảm nghèo cho một quốc gia.

Ngân hàng Thế giới làm gì để giúp chính phủ thực hiện dự án thủy điện?

Ngân hàng Thế giới áp dụng các chính sách về an toàn và các phân tích của Ngân Hàng Thế giới để xem xét các đề xuất của chính phủ nhằm đánh giá (1) tác động của việc cam kết và không cam kết; (2) nhu cầu cần hỗ trợ; và (3) tính bền vững và chất lượng của dự án. Ngoài hỗ trợ tài chính, Ngân hàng còn cung cấp hướng dẫn lập kế hoạch, thực hiện giám sát chặt chẽ, trợ giúp kỹ thuật và hỗ trợ xây dựng thể chế.

Ngân hàng cũng làm việc với chính phủ, cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư tài chính cho dự án. Khi dự án nhận được trợ giúp, Ngân hàng sẽ đóng vai trò giám sát tích cực để đảm bảo việc thực hiện dự án tuân thủ theo những kế hoạch thực hiện và quản lý đã được đồng ý bao gồm kế hoạch tái định cư và quản lý môi trường.

Ngân hàng Thế giời thực hiện các hướng dẫn của Ủy ban Đập Thế giới như thế nào?

Ngân hàng Thế giới ủng hộ điều lệ cơ bản và ưu tiên chiến lược nêu trong báo cáo của Ủy ban Đập Thế giới (WCD). Các hướng dẫn của WCD và Qui trình đánh giá của Hiệp hội Thủy điện Quốc tế bổ sung thêm vào các chính sách về an toàn của Ngân hàng Thế giới để đánh giá và quản lý các dự án thủy điện bền vững. Bên cạnh làm việc với chính phủ và những nhà đầu tư dự án mà Ngân hàng hỗ trợ, Ngân hàng Thế giới sử dụng những công cụ này để đánh giá nên áp dụng những thực tiễn nào vào mỗi dự án để dự án thiết thực, hiệu quả và kịp thời.

Mục tiêu danh mục dự án năng lượng của WBG là gì?

Nhóm Ngân hàng Thế giới đáp lại những thách thức năng lượng toàn cầu của những nước thành viên và trên các diễn đàn quốc tế. WBG đang lớn mạnh và thay đổi hoạt động lĩnh vực năng lượng. Các phân tích cho thấy tất cả các dạng năng lượng sẽ cần tới trong tương lai để đáp ứng nhu cầu về điện năng của người dân. Danh mục dự án năng lượng của WBG đang mở rộng và tập trung vào năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng (RE/EE).

Trong năm tài chính 2009, Nhóm Ngân hàng Thế giới giành nguồn tài chính 8,23 tỷ đô la Mỹ cho năng lượng. Khoảng 76% cho năng lượng không hóa thạch, trong đó 40% cho RE/EE (gồm các loại thủy điện), 36% cho hệ thống truyền tải điện và dịch vụ, chính sách/cải cách ngành. 24% cho nhiên liệu hóa thạch, chủ yếu là khí tự nhiên (sản xuất + nhiệt điện). Trong năm tài chính 2009, năng lượng tái tạo chiếm 40% khoản tài chính cho lĩnh vực năng lượng, đạt 3,3 tỷ đô la Mỹ.

Trong 3 năm qua - các năm tài chính 2007-2008-2009 – tổng tài chính giành cho năng lượng của Ngân hàng Thế giới (WB Group) đạt 19,4 tỷ đô la Mỹ. Khoảng 75% cho năng lượng không hóa thạch, trong đó 38% cho năng lượng tái tạo và 37% cho các hệ thống truyền tải điện và dịch vụ, chính sách (các khoản đầu tư hỗ trợ cho cải cách ngành điện). Trong vòng 5 năm qua WBG đã hỗ trợ tài chính hơn 7 tỷ đô la Mỹ cho các dự án/chương trình RE/EE, gấp 3,5 lần con số cam kết tại hội nghị quốc tế về RE/EE tại Bonn năm 2004.




Permanent URL for this page: http://go.worldbank.org/YUCFIF0JN0