Việt Nam là một trong những nền kinh tế đang phát triển vận hành tốt nhất trên thế giới. Hiện Việt Nam đang tiến hành công cuộc chuyển đổi lâu dài từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá. Việt Nam có tiềm năng tạo ra một trong những câu chuyện thành công vĩ đại về phát triển. | Chỉ tiêu quốc gia | 1993 | 2005 | | Tổng thu nhập quốc nội đầu người (phương pháp Atlas, US$) | 170 | 620 | | Lạm phát (CPI, tỷ lệ hàng năm, %) | 8.4 | 8.4 | | Nợ nước ngoài ( % trên Tổng thu nhập quốc nội) | 191 | 33 | | Tỷ lệ đói nghèo (% dân số với tiêu dùng dưới mức cơ bản) | 58 | 20 (2004) | | Tỷ lệ đến trường cấp tiểu học (%) | 77 (1990) | 94 (2004) | | Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi (trên1000) | 53 (1990) | 23 (2004) | | Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh (trên 100.000 trẻ sơ sinh) | 200 | 80 | | Dân số (triệu người) | 70.3 | 83 | Tỷ lệ tăng dân số (%/năm) | 2 | 1 | | Nguồn: Tổng cục thống kế; Ngân hàng thế giới – Nhóm tổng hợp dữ liệu phát triển |
Thu nhập thực tế tăng 7.3% hàng năm trong vòng 10 năm qua. Khi Ngân hàng Thế giới quay lại Việt Nam năm 1993 thì thu nhập đầu người là US$170. Hiện tại thu nhập đầu người là US$620, và đến 2010 có thể đạt US$1,000. Tỷ lệ đói nghèo giảm từ 58 % vào năm 1993 xuống còn dưới 20 % năm 2004. Việt Nam có thể đạt được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Việt Nam là quốc gia nhận được viện trợ lớn của IDA mặc dù Việt Nam không phải là quốc gia phụ thuộc vào viện trợ. Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức điều phối nguồn viện trợ nước ngoài cho Việt Nam vì WB huy động khối lượng lớn nguồn viện trợ và đặc biệt là vì chuyên môn kỹ thuật vượt bậc của Ngân hàng thế giới. Điều này góp phần đối thoại hiệu quả về cải cách chính sách mà Việt Nam đang củng cố trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. |